Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Lê Mạnh Cường)
  • (Ngô Văn Chinh)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Mua_an_do.flv Anhdepdongvat21.jpg Con_hay_doi_roi_se_biet1.flv Toc_xu_bay_len_troi_2.swf Dfe3bd913071.gif Duahaunghethuat2.jpg Bac_thieunhi.swf BacHo1.swf Hoa_no.swf Bluerose1.gif Hoa_nhi_dan_ngang_duoi.swf Hoa_co_lam_baner.swf Cayhoadao.jpg Mai34vx.jpg Dan_ga_trong_san.swf 23_935468414.jpg 7.gif Vi_sao_tho_cut_duoi__Truyen_ke_mam_non_360p.flv

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với Website Phòng GD&ĐT Quận Cầu Giấy.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

    Vọng Lư Sơn

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Giáo viên: Đinh Thu Hà
    Người gửi: Nguyễn Thu Thủy
    Ngày gửi: 17h:27' 02-08-2009
    Dung lượng: 941.5 KB
    Số lượt tải: 292
    Số lượt thích: 0 người
    A. Xa ngắm
    thác núi lư
    Lí bạch ( 701 -762)
    Cô giáo Đinh Thu Hà
    Lí Bạch (tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên Cư sĩ)
    Sống tại:         Tứ Xuyên, Trung Quốc
    Sinh tại:          Thành Kỷ, Lũng Tây (nay là Cam Túc) Trung Quốc
    Sinh năm:       Tháng 5 - 701
    Năm mất:       762
    Gia đình:         Con một thương nhân 
    Lư Sơn hay còn gọi là Lô Sơn là một dãy núi nằm ở phía nam thành phố Cửu Giang tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, gần hồ Bà Dương. Lư Sơn có 99 ngọn núi, trong đó đỉnh cao nhất là Dahanyang với độ cao 1474 m trên mực nước biển. Núi này là một điểm du lịch quan trọng của Trung Quốc.
    Đây là nơi được du khách nội địa Trung Quốc ưa thích. Tại đây, trên vách núi có thể nhìn thấy những sự dịch chuyển vỉa rất đặc biệt từ kỷ Băng hà. Phong cảnh vùng này rất đẹp với các đỉnh núi, thung lũng, hẻm núi, khe núi, kiến tạo đá, hang động, và thác nước. Khu vực này cũng có một số đền thờ Đạo giáo, chùa Phật giáo, cũng như nhiều di tích Khổng giáo.
    Năm 1982, Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn Lư Sơn là khu danh lam thắng cảnh trọng điểm của quốc gia. Năm 1996, Công viên Quốc gia Lư Sơn được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.
    Mùa thu, rất đông đảo khách du lịch trên thế giới đã đến Trung Quốc thưởng ngoạn tượng Phật cao nhất thế giới Leshan (Lư Sơn - Tứ Xuyên, Trung Quốc). Ngôi tượng Phật này được chạm đẽo vào một mảng núi ở tỉnh Tứ Xuyên, là Di sản văn hóa thế giới từ năm 1996.
    望廬山瀑布
    日照香爐生紫煙,
    遙看瀑布掛前川;
    飛流直下三千尺,
    疑是銀河落九天。
    Vọng Lư sơn bộc bố
    Nhật chiếu hương lô sinh tử yên,
    Dao khán bộc bố quải tiền xuyên.
    Phi lưu trực há tam thiên xích,
    Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên.

    Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,
    Xa trông dòng thác trước sông này :
    Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước,
    Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.
    1. Căn cứ vào đầu đề bài thơ và câu thơ thứ 2 xác định vị trí đứng ngắm thác nước của tác giả? Vị trí đó có lợi thế gì trong việc phát hiện những đặc điểm của thác nước?
    2. Câu thứ nhất tả cái gì và tả nhu th? no? Câu này có vị trí nhu th? no trong toàn bài thơ?
    3. Nêu những vẻ đẹp khác nhau của thác đã được Lý Bạch phát hiện và miêu tả trong 3 câu thơ tiếp theo?
    4. Câu 2 tác giả miêu tả vẻ đẹp của thác nước nhu th? no?
    +So sánh bản dịch và nguyên văn của bài thơ?
    +Câu thơ thứ 3 cho ta biết điều gì?
    5. Từ ngữ nào đáng chú ý trong câu 4. Phân tích sự thành công của tác giả trong việc dùng từ ngữ này? Em hiểu dải Ngân Hà là gì? Câu 4 sử dụng nghệ thuật gì?
    6.Hình dung thác núi Lư qua sự miêu tả của tác giả?
    -Khi miêu tả thác núi Lư, nhà thơ có thái độ ntn?
    -Bài thơ giúp em hiểu gì về tâm hồn và tính cách của nhà thơ?
    1. Ngọn núi Hương Lô
    -Hiện lên với đặc điểm nổi bật nhất dưới những tia nắng của mặt trời, vừa rực rỡ, vừa kỳ ảo.
    +Động từ "sinh``-> mặt trời làm chủ thể cho mọi vật mới sinh sôi, nảy nở, trở nên sống động.
    2.Vẻ đẹp của thác nước:
    - Như 1 dải lụa trắng rủ xuống yên ắng, bất động được treo lên giữa khoảng vách núi và dòng sông.
    - Dòng thác đổ ầm ầm như bay thẳng từ lưng chừng trời
    - Nhìn dòng thác núi Lư vắt ngang trời, tác giả tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.
    ->Ngọn thác núi Lư đẹp, hùng vĩ, sống động, mỹ lệ, kỳ diệu
    B. Phong Kiều dạ bạc.
    Trương Kế
    Tác giả :
    + Sống vào khoảng trước sau năm 756- đời vua Đường Túc Tông.
    + Người Trương Châu, tỉnh Hồ Bắc.
    + Trương Kế tự là Ý Tôn, từng thi đậu tiến sĩ và làm quan trong triều với chức vụ Tự bộ viên ngoại lang, về sau bị đổi ra Hồng Châu coi việc tài phú và mất tại đây. Sinh thời, ông là người học rộng, thích đàm đạo và bàn bạc văn chương, thế sự... đặc biệt rất thích làm thơ.
    楓橋夜泊
    月落烏啼霜滿天
    江楓魚火對愁眠
    姑蘇城外寒山寺
    夜半鐘聲到客船
    Phong Kiều dạ bạc
    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
    Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
    Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
    Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
    Trăng tà chiếc quạ kêu sương
    Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
    Thuyền ai đậu bến Cô Tô
    Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
    Bến Phong Kiều
    Chuông chùa Hàn Sơn
    Tháp chùa Hàn Sơn
    Hàn Sơn Tự
    2. Bài thơ :
    - Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế là một trong những bài thơ Đường lừng danh như những bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, bài Giang Hán của Đỗ Phủ...
    - Nguyên tác bài thơ Phong Kiều dạ bạc sau này đã được Khang Hữu Vi đời nhà Thanh khắc trên tấm bia lớn dựng trong chùa Hàn San để cho người đời sau qua đây thưởng lãm.
    - "Phong Kiều dạ bạc" là một bài thất ngôn tứ tuyệt hàm súc, dễ hiểu, với nhiều địa danh đầy sức gợi cảm như Cô Tô- gắn với hình ảnh về người đẹp Tây Thi, Hàn San là ngôi chùa có nhiều vị sư nổi tiếng một thời và nhiều giai thoại, điển tích...
    Cảnh sắc lúc đó, sương phủ mờ cả dòng sông và bến đậu, trăng xế ngang đầu. Chiếc thuyền của nhà thơ Trương Kế đậu lẻ loi bên bến Phong Kiều. Trên bờ, ngoài thành Cô Tô, chùa Hàn San mờ ảo trong đêm. Tiếng chuông chùa ngân vang, lay động cả màn sương và bật mở hồn thơ Trương Kế.
    +Câu đầu, thơ đi nhịp nhàng, lửng thửng như nhà thơ đang nhàn du trong sương, dưới trăng:
    + Câu hai, thơ như chậm lại bên hàng cây phong, dưới sông thấp thoáng ánh lửa thuyền chài, đêm buồn dịu lặng,
    +Câu ba, thơ sực tỉnh, như dừng lại, ngoài trăng, sương, sông, nước, còn ngôi chùa ẩn hiện trong đêm:
    +Câu cuối, thơ ngỡ ngàng trước tiếng chuông chùa ngân vang trong lòng đêm yên lặng, giữa đêm tịch mịch, sương như lung lay, nước như gờn gợn, khách trong thuyền xao xuyến cả tâm hồn
    Bài thơ là nỗi buồn của Trương Kế gửi gắm trong một tiếng quạ kêu thảng thốt, lẻ loi trong đêm và cái nỗi sầu len vào giấc ngủ chập chờn của hàng cây phong đối diện với ánh lửa chài.
    Hai câu thơ tả thực mà không thực, nó hấp dẫn người đọc ở cái vẻ hư ảo của nó. Những ‎ý thơ dường như không khớp nhau vì khi trăng lặn (nguyệt lạc), tức đã gần sáng, mà gần sáng (khác với nửa đêm - bán dạ) thì còn ai thức mà thỉnh chuông nữa. Tác giả viết những câu thơ trong chập chờn nửa tỉnh nửa mơ, gần sáng mà cứ tưởng nửa đêm.
    Đó là nỗi buồn của một người bị chuyển đi xa luôn làm tác giả chìm vào trong ảo ảnh.
    Tiếng chuông đến từ chùa Hàn San, nơi có hai vị sư Hàn San và Thập Đắc nổi tiếng uyên thâm đạo học thời bấy giờ, ở ngoại thành Cô Tô đến làm khách của tác giả cũng giống như là tiếng chuông ảo. Câu thơ hay trong cái mơ màng hư ảo đó. Lấy một cái "giả thực" của ngoại cảnh để thể hiện một cái "đích thực" của tâm trạng là một đặc sắc nghệ thuật mà các tác giả cổ điển hay dùng. Nỗi buồn vô cớ hay nỗi buồn về nhân tình thế thái nói chung của tác giả, cho đến ngày nay vẫn chỉ là sự suy diễn.
     
    Gửi ý kiến